- Cá ngựa: Dược liệu cá ngựa
có tên thuốc là hải mã hay thủy mã, có vị ngọt, mặn, tính ấm, không
độc, có tác dụng tráng dương, kích thích sinh dục, gây hưng phấn, chủ
trị tính yếu sinh lý ở nam giới, liệt dương, di tinh, xuất tinh sớm.
Dùng
riêng, cá ngựa một đôi (tượng trưng cho con đực và con cái) sấy khô
vàng, tán nhỏ, xay bột mịn; ngày uống 3 lần, mỗi lần 2-5g với rượu.
Hoặc cá ngựa một đôi (đang “quấn nhau†và còn nguyên mắt, để tươi -
theo quan niệm của ngư dân vùng biển) ngâm với rượu.Dùng phối hợp: cá
ngựa 30g, bàn long sâm 30g, cốt toái bổ 20g, long nhãn 20g. Tất cả cắt
nhỏ, ngâm vào một lít rượu trong 5-7 ngày, càng lâu càng tốt. Ngày uống
20-40ml, chia làm 2 lần. Hoặc cá ngựa 2 con, ngài tằm đực 5 con, tôm
càng 20g, sao vàng, tán bột, xay mịn, chia làm 2-3 lần, uống trong ngày.
-Cá chìa vôi: Cá
chìa vôi (Solenognathus hardwickii Gray) thuộc họ cá chìa vôi
(Syngnathidae) là một loài cá biển. Thân dài 35-50cm, có rất nhiều đốt
vòng xương.
Bộ phận dùng làm thuốc của cá chìa vôi là cả con,
rửa sạch, mổ bụng, bỏ ruột, phơi hoặc sấy khô. Dùng sống hoặc sao với
hoạt thạch đến khi có màu vàng hoặc tẩm rượu, tẩm dầu.
Trong y
học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, cá chìa vôi được dùng với tên
thuốc là hải long. Dược liệu có vị mặn, ngọt, tính ấm, có tác dụng bổ
thận, tráng dương, gây hưng phấn, kích thích sinh dục, chủ trị tính yếu
sinh lý ở nam giới, liệt dương, giúp đàn bà khó đẻ dễ sinh con. Ngày
uống 3 lần, mỗi lần 2-5g, có thể dùng đến 10g. Có thể ngâm rượu mà
dùng. Người không uống rượu, pha thêm nước và mật ong.
- Cá chép:
Cá chép tên trong y học cổ truyền là lý ngư. Mật cá chép chứa sắc tố
mật, acid mật và sterol, được dùng chữa liệt dương, di tinh. Thường
dùng với những vị thuốc khác, công thức như sau:
- Mật cá chép
1 cái, gan gà trống 1 bộ. Hai thứ nghiền nát, ngâm với 500ml rượu trắng
trong 5-7 ngày, càng lâu càng tốt. Thỉnh thoảng lắc đều. Ngày uống 2
lần, mỗi lần 30ml.